Vì sao dung lượng ổ cứng luôn thấp hơn nhà sản xuất nói?

Chắc hẳn rằng đa số chúng ta từng nhận ra dung lượng thật ổ đĩa trong máy tính của mình không giống như con số được niêm yết trên hộp.

Vì sao dung lượng thật ổ đĩa trong máy tính của mình lại không giống hệt như con số được niêm yết trên hộp: ổ cứng HDD 1 TB nhưng dung lượng thật chỉ 931 GB, hay SDD 250 GB nhưng trong ổ cài hệ điều hành chỉ có 232 GB. Ngay cả với các thiết bị di động như iPhone 64 GB, dung lượng bộ nhớ bạn có thể sử dụng được chỉ khoảng 56 GB mà thôi.

Có một vài lý do – tất nhiên là tốt – để giải thích cho sự việc này. Hãy cùng xem tại sao dung lượng thực tế lại thường không giống với những gì được quảng cáo.

Hệ điều hành và ứng dụng được cài đặt sẵn

Trong số những lý do phổ biến nhất đó chính là đã có một lượng dữ liệu tồn tại sẵn khi bạn đặt đơn hàng mới thiết bị. Tất nhiên nó không áp dụng với ổ đĩa flash hay SD, mà là điện thoại và những chiếc PC, laptop đã được cài đặt sẵn hệ điều hành hay phần mềm trước đó.

Khi chúng ta mua một chiếc máy tính, thì hệ điều hành (Windows hay macOS) sẽ chiếm một lượng lớn không gian của ổ cứng. Các tệp và thư mục thuộc hệ điều hành là cần thiết để hệ thống máy vi tính có thể hoạt động đúng chức năng. Vì vậy, chúng ta cũng không cần quá khó chịu với vấn đề này.

 

 

Ví dụ cho chúng thấy chỉ riêng dữ liệu hệ điều hành C:/Windows đã chiếm đến 25 GB, gần 1/10 không gian của ổ đĩa SSD 256 GB.

Tuy vậy, trong một vài trường hợp, việc chiếm dụng dung lượng không chỉ đến từ các tệp tin OS. Hầu hết hệ điều hành còn tích hợp thêm một số ứng dụng đi kèm để người dùng có thể sử dụng nếu thích, bao gồm bloatware – các ứng dụng dùng thử – từ Windows hay là 1 vài phần mềm có ích được cài sẵn trên macOS như GarageBand.

Những phần mềm này thực chất không phải là một phần của hệ điều hành, vì vậy bạn có thể tùy chọn gỡ bỏ để giải phóng không gian bộ nhớ cho thiết bị của mình.

Máy tính đo lường không gian bộ nhớ khác với chúng ta

Trong khi các ứng dụng được cài sẵn là giữa những yếu tố chính, thì lý do lớn nhất khiến người dùng không nhận được toàn bộ dung lượng như quảng cáo là bởi máy vi tính có cách đo lường con số khác hoàn toàn so với con người.

Máy tính sử dụng các tiền tố giá trị tiêu chuẩn, bao gồm "kilo" thay cho nghìn, "mega" thay triệu, "giga" – tỷ và "tera" – nghìn tỷ…Trước tiên, chúng ta sẽ làm rõ bao nhiêu gigabyte sẽ thành 1 terabyte.

Đối với con người, trong đó có các nhà sản xuất phần cứng, đều sử dụng hệ đếm thập phân, đo lường với bội số cơ bản là 10. Vì thế, khi chúng ta nói "500 gigabyte", thì có nghĩa là 500 ngàn tỷ byte.

Tuy nhiên, khác với chúng ta, máy tính lại sử dụng hệ thống nhị phân gồm 2 ký tự, thể hiện tất cả các con số chỉ bằng 1 và 0.

Từ 1 đến 10 dưới dạng số nhị phân được biểu diễn như sau :

1 : 20 =1

10 : 20+21= 2

11 : 2+21 = 3

100 : 20+21 +22 = 4

101 : 2+21 +22 = 5

110 : 20+21 +22 = 6

111 : 2+21 +22 = 7

1000 : 20+21 +22 +23 = 8

1001 : 2+21 +22 +23 = 9

1010 : 20+21 +22 +23 = 10

Có thể thấy, trong hệ nhị phân, 21 đại diện cho giá trị ở hệ thập phân là 1, 22 có giá trị 4, 2có giá trị 8, 24 khớp ứng với 16, và cứ tiếp tục như vậy. Mỗi một vị trí chữ số mới trong nhị phân tăng giá trị của số thập phân thêm 2x. Và cuối cùng, 210 bằng 1024.

Bây giờ chúng ta đã biết tại sao máy tính sử dụng 1.024 thay vì 1.000 để xác định các tiền tố đo lường ở trên. 1.024 byte tương đương với 1 Kilobyte (KB) chứ không phải là 1.000 như hệ thập phân. Tương tự, 1 Megabyte (MB) sẽ bằng 1.024 KB, và 1 Gigabyte ( GB) tương đương với 1.024 MB…

Trở về vụ việc, giả sử chúng ta đang có trên tay ổ đĩa SSD rời với dung lượng được ghi trên vỏ hộp là 250 GB. Ổ đĩa đó sẽ chứa được tổng cộng 250.000.000.000 byte, nhưng khi lắp vào laptop, chúng sẽ không hiển thị theo cách đó.

Thực hiện quy đổi ngược, chúng ta lấy con số trên chia cho 1,024 ba lần: chia lần một để đổi từ GB sang MB, chia lần 2 để đổi từ MB sang KB và chia lần cuối để đổi từ KB sang B.

250.000.000.000/ (1,024*1,024*1,024) = 232.830.643.653 byte, hay 232,83 GB.

Dung lượng ổ đĩa càng lớn, sự khác hoàn toàn giữa không gian bộ nhớ danh nghĩa và không gian bộ lưu trữ thực tế càng lớn.

Thực hiện kiểm tra ổ đĩa 250 GB trong Windows cho biết dung lượng tối đa của nó là 232 GB, kết quả chính xác như những gì chúng ta đã tính, với mức chênh lệch khoảng 18 GB.

Dung lượng ổ đĩa càng lớn, thì sự khác biệt giữa không gian bộ lưu trữ danh nghĩa và không gian bộ nhớ thực tế càng lớn. Ví dụ với ổ đĩa 1TB (1.000 GB) chỉ có dung lượng khoảng 931 GB được thể hiện trên laptop.

Gigabyte và Gibibyte

Đến đây, nhiều người sẽ tự hỏi: vậy tại sao sự khác biệt này lại tồn tại? Tại sao các nhà sản xuất ổ đĩa cứng lại không công bố mức dung lượng thật của chúng, có điều gì khó khăn khiến họ phải làm vậy chăng?

À không, tất nhiên, họ rất có thể ra mắt dung lượng thật của ổ đĩa.

Định nghĩa đúng nhất về khái niệm "giga" đó là bội số 1.000. Còn với bội số 1.024 chúng ta có một cái tên khác: "Gibi". Ủy ban Kỹ thuật Điện Quốc tế (IFC) đã đưa ra một quy chuẩn chung cho việc tính toán dữ liệu hệ nhị phân để giải quyết những rắc rối tồn đọng này.

Theo đó, 1 Kilobyte (KB) sẽ tương đương với 1.000 byte, trong khi 1 Kibibyte (KiB) sẽ bằng 1.024 bytes. tương tự như với các tiền tố thể hiện dung lượng cao hơn, như Mebibyte (MiB), Gibibyte (GiB), Tebibyte (TiB) …

Vì 1 số ít lý do nào đó, Windows đã không chính xác khi sử dụng "GB" để thể hiện giá trị thực sự gibibytes. Những hệ điều hành khác, như macOS, đã thể hiện khá chuẩn mực 1 GB tương đương với một tỷ byte. Vậy nên, cùng một ổ 250 GB, trong khi Windows cho giá trị 232 GB, thì Mac sẽ thể hiện bộ nhớ dung lượng đúng con số 250 GB trong máy.

Phân vùng ổ cứng bổ sung

Ngoài ra lý do chính được nêu ra ở trên, vẫn còn một nguyên nhân phụ khác – mặc dù không phổ biến – cũng có thể gây nên việc giảm dung lượng của ổ đĩa: phân vùng bổ sung.

Trong trường hợp bạn vẫn chưa biết, chúng ta hoàn toàn có thể chia ổ đĩa cứng thành nhiều khu vực logic khác nhau, hay còn được gọi là phân vùng ổ cứng. Việc chia ổ cứng ra thành nhiều vùng cho phép chúng ta cài đặt hai hệ điều hành khác nhau trên cùng một ổ đĩa, phục vụ các mục đích sử dụng đặc điểm.

Khi người dùng mua laptop hay máy tính đã được cài đặt sẵn, thì nhà sản xuất thường sẽ tạo sẵn một phân vùng hồi sinh trên ổ đĩa. khu vực này sẽ chứa dữ liệu cho phép người dùng reset lại hệ điều hành trong các trường hợp bất khả kháng.

Giống như các tệp tin khác, chúng sẽ chiếm dụng 1 phần không gian bộ lưu trữ ổ cứng. Tuy nhiên bởi vì phân vùng phục hồi thường bị ẩn trên Windows, nên bạn hầu như sẽ không nhận ra khoanh vùng này có tồn tại.

Để biết được các vùng ổ đĩa của bạn trên Windows, gõ disk management trên thanh tìm kiếm và chọn Create and format hard disk partitions. Tại đây bạn có thể thấy tất cả các ổ đĩa trên hệ thống như HDD, SSD và cả những phân vùng được tạo ra. Nếu phân vùng nào có thuộc tính Restore, Recovery, thì đó là khu vực chứa dữ liệu hồi phục cho máy của bạn.

Trong nhiều phần trường hợp, chúng ta cũng có thể xóa những phân vùng này và đưa ổ đĩa về dung lượng mà chúng ta mong muốn.

Trong đa số trường hợp, chúng ta cũng có thể xóa những phân vùng này và đưa ổ đĩa về dung lượng mà chúng ta mong muốn.

Mặc dù vậy, rất tốt hãy nên để nó như vậy, bởi phân vùng hồi sinh sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc khôi phục lại hệ điều hành, và một không gian chiếm dụng nhỏ cũng không đáng để đánh đổi những rắc rối khi thực hiện khôi phục lại máy tính bằng cách thủ công bằng tay.

Những tính năng ẩn phần nào cũng có thể chiếm dụng không gian

Cuối cùng, hầu hết hệ điều hành đều được trang bị những tính năng tính chất, có thể chiếm dụng không gian nhưng lại không tồn tại các tệp tin tiến hành nhất định. Ví dụ như Windows's Shadow Copy từng được tích hợp trong các tính năng Previous Versions và System Restore.

System Restore cho phép hệ điều hành trở về một thời điểm trước đó nếu chúng không hoạt động tốt, trong khi Previous Version lưu trữ các bản sao tệp tin cá nhân để bạn có thể hoàn tác những thay đổi. Và tất nhiên, cả hai tính năng này đều cần chiếm dụng không gian bộ nhớ lưu trữ.

Đa số hệ điều hành đều được trang bị những tính năng đặc thù, có thể chiếm dụng không gian nhưng lại không tồn tại các tệp tin triển khai nhất định

Để kiểm tra và thay đổi lượng không gian bộ nhớ của các tính năng trên, nhấn tổ hợp phím Win + Pause để mở hộp thoại Control Panel. Từ đây, chọn System Protection phía cạnh trái. Ở cửa sổ hiện ra, chọn ổ đĩa của bạn từ danh sách và chọn Configure.

Ở hộp thoại System Protection cho phép người dùng vô hiệu hóa hoàn toàn chức năng nhân viên an ninh hệ thống (lời khuyên không nên chọn lựa vào mục này), mục bên dưới hiển thị dung lượng Bây Giờ và điểu chỉnh lượng dung lượng tối đa Windows có thể sử dụng cho Shadow Copy. 10% là phần trăm chiếm dụng khá ổn mà bạn có thể cân nhắc trong trường hợp này.

Trên đây là những lý do phổ biến nhất có thể giải thích cho vụ việc không giống nhau giữa dung lượng ổ cứng quảng cáo và thực tế, mặc dù vẫn còn một số yếu tố nhỏ khác nữa – chẳng hạn tựa như những block đặc biệt trong SSD – vẫn chưa được đề cập.

Hi vọng rằng bài viết này có thể giúp bạn phần nào đưa ra những lựa chọn hợp lý cho việc chọn mua ổ đĩa có dung lượng phù hợp với mục đích và nhu cầu sử dụng.

 (Theo Zing)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *